VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI (ITB)
Cập nhật lúc: 5/06/16 8:54 AM

Phát hiện một loài thực vật mới Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang cho khoa học từ Việt Nam

Trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Trung tâm Bảo tồn sinh thái châu Á thuộc Đại học Kyushu, Nhật Bản về nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam. Các nhà thực vật vừa công bố một loài thực vật mới thuộc họ Annonaceae (họ Na) tại KBTTN Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa và được đặt tên là Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang (Giác đế hòn bà). 

Goniothalamus flagellistylus
Loài mới Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S. Dang - Giác đế hòn bà (ảnh chụp bởi TS. Shuichiro Tagane)

Loài mới này được đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, số 50, trang 1–8, ngày 23/05/2015. Thông tin liên quan: http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=4427Loài Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang có đặc điểm là Cây gỗ nhỏ, cao khoảng 11 m; cành non có lông. Lá hình bầu dục thuôn, rất to, kích thước 31–45 x 8,2–11,5 cm, gốc lá nhọn hay tù, bìa nguyên, đầu có mũi nhọn, không lông ở cả hai mặt; gân bên 16–20 cặp. Hoa đơn độc, mọc ở thân chính hay cành già; cuống hoa dài 19–25 mm. Đài có màu hơi xanh xanh, không lông ở mặt ngoài và có lông nâu rải rác mặt trong, tồn tại bền bỉ. Tràng hình xoan thuôn hay xoan hẹp ở phía ngoài và hình thoi ở phía trong, có lông. Nhị nhiều, dạng thuôn dẹt, kích thước 3,8–4,8 x 0,6 mm. Bầu nhụy 1,4–1,7 x 0.3 mm, phủ bởi một lớp lông hơi vàng. Quả nhiều, dạng bầu dục, có màu nâu đỏ, kích thước 1,6–1,7 x 1 cm. Hạt 1, có màu nâu vàng, kích thước 1,5 x 0,8–1,0 cm.

Loài Giác đế hòn bà được phát hiện ở độ cao từ 100–400 m trong kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng, hơi dốc ven suối, mọc cùng với các loài ưu thế khác như Ixonanthes reticulata Jack, Gironniera subaequalis Planch., Archidendron chevalieri (Kosterm.) I.C.Nielsen, Barringtonia augusta Kurz, Barringtonia macrostachya (Jack) Kurz, Camellia krempfii (Gagn.) Sealy, Streblus indicus (Bureau) Corner, Xerospermum noronhianum Blume và Pandanus fibrosus Gagnep.

 

                                                          Nguồn và tin: Đặng Văn Sơn – Viện Sinh học nhiệt đới